Saturday, 13 December 2014

chú thích 12



(1) GKL: Bản dịch Anh ngữ của George Kin Leung, The Lone swan, The Commercial Press, Limited, Shanghai, China, 1934.
(2) BG-1: Bùi Giáng chú: "Bản Anh ngữ dịch nhiều đoạn thật linh động thơ ngây." Tuy nhiên, đoạn trích dẫn ở đây lại tìm thấy trong tác phẩm Field of Honor (1929), or The Power of the Dog. Cf. http://archive.org/stream/powerofdog00byrn/powerofdog00byrn_djvu.txt
(3) BG-2: đoạn trích dẫn ở đây chưa tìm ra xuất xứ. Xem thêm Phụ lục: Dịch - Thi Ca Tư Tưởng - Bùi Giáng
(4) ... doanh mâu lang lạc (...) lãnh nhiên liên ỷ: nguyên văn Phiên âm: Dư thùy thủ hoàn hành ư di thị đình uyển ngư đường đê bạn<doanh mâu khuếch lạcluân y linh nhiên>Bùi Giáng dịch: Tôi cúi đầu đi vòng quanh vườn tược nhà dì, vòng quanh bờ đập nước, vòng quanh những <doanh mâu lang lạc>, những rạng rỡ cột trụ vân thạch, và ghé tới bên cái bờ ao <lãnh nhiên liên ỷ> li ti vang bóng mùa thu trước năm nào.
<doanh mâu> nghĩa là đầy mắt, ngợp cả mắt nhìn.
<khuếch lạc> mở rộng, lớn rộng: Bùi Giáng dịch âm là
<lang lạc>, chữ Hán <khuếch> viết rất giống với chữ Hán <lang> .
<luân y> , cũng như <liên y> sóng gợn lăn tăn: Bùi Giáng dịch âm là <liên ỷ>.
<linh nhiên> nghĩa là lạnh mát. Bùi Giáng dịch âm là
<lãnh nhiên>, chữ Hán <linh> dạng viết và ý nghĩa rất gần với chữ <lãnh> .
Đoạn văn này trong bản Anh ngữ dịch khá sát nghĩa: "I strolled about my aunt's grounds — her pavilions, garden, and the path skirting the fishpond. Wide spaces and limpid streams greeted my eyes."

(5) áo tiểu thơ: Vậy đó, bỗng nhiên mà họ lớn, Tuổi hai mươi đến có ai ngờ. Một hôm trận gió tình yêu lại, Đứng ngẩn trông vời áo tiểu thơ. (Huy Cận, Lửa thiêng, Hà Nội, 1940).
(6) tam sinh: ba đời, duyên số đã định từ trước. Tương truyền vào đời Đường, Lí Nguyên làm bạn với sư Viên Quan . Viên Quan lúc sắp chết hẹn với Lí Nguyên mười hai năm sau sẽ gặp lại nhau tại chùa Thiên Trúc ở Hàng Châu. Lí Nguyên đúng hẹn đến trước chùa và thấy một mục đồng ca rằng: Tam sinh thạch thượng cựu tinh hồn, ..., Thử thân tuy dị tính trường tồn , ..., , nghĩa là: Ba đời trên đá ghi dấu tinh hồn cũ, ..., Thân này dù khác nhưng bổn tính mãi còn. Lí Nguyên biết mục đồng chính là Viên Quan (Viên Giao , Cam trạch dao , Quyển ngũ , Viên Quan ). 
(7) thù du: tên một loại cỏ ăn được hoặc dùng làm thuốc. Vào tiết Trùng Dương (cũng gọi là Trùng Cửu) người Trung Quốc ngày xưa có tục lệ hái cành thù du giắt trên mình, để trừ tà. Vương Duy : Độc tại dị hương vi dị khách, Mỗi phùng giai tiết bội tư thân. Diêu tri huynh đệ đăng cao xứ, Biến sáp thù du thiểu nhất nhân , . , (Cửu nguyệt cửu nhật ức San Đông huynh đệ ) Một thân làm khách ở quê người, Mỗi khi đến ngày lễ hội lại càng nhớ người thân. Ở xa biết anh em đang lên núi (hái cỏ thuốc), Giắt cành thù du thì chỉ thiếu một mình ta (Ngày 9 tháng 9 nhớ anh em ở Sơn Đông). 
(8) thạch thảo: Bùi Giáng dịch thơ Apollinaire: J’ai cueilli ce brin de bruyère, L’automme est morte souviens-t’en (L’Adieu) Ta đã hái nhành lá cây thạch thảo, Em nhớ cho mùa thu đã chết rồi.
(9) hồ sơn ứng mộng: xem bài Tống Tử Do sứ Khiết Đan 使 của Tô Thức:


Vân hải tương vong kí thử thân


Na nhân viễn thích cánh triêm cân


Bất từ dịch kị lăng phong tuyết

使
Yếu sử Thiên Kiêu thức phụng lân


Sa mạc hồi khan Thanh Cấm nguyệt

Hồ sơn ứng mộng Vũ Lâm xuân

Thiền Vu nhược vấn quân gia thế

Mạc đạo trung triều đệ nhất nhân

Dịch nghĩa: Tiễn em trai Tử Do đi sứ Khiết Đan.
Mây biển trông nhau (từ nơi ta) kí gởi tấm thân này, Người đi xa càng thêm đẫm (nước mắt) dải khăn. Em không ngại từ nan (nhận nhiệm vụ đi sứ) vượt trạm dịch xông pha gió tuyết, cần phải làm cho vua Hung Nô (tự xưng là Thiên chi kiêu tử, tức là đứa con kiêu cường của trời) rõ mặt anh tài non nước Trung Hoa. Em từ vùng sa mạc bể cát mênh mông đất Hung Nô nhìn về trăng ở kinh đô Tử Cấm thành (Thanh Cấm), ta mùa xuân ở Hàng Châu (Vũ Lâm là tên núi ở Hàng Châu, cũng mượn chỉ thành Hàng Châu), đắm giấc mộng sông hồ. Nếu như vua Hung Nô (Thiền Vu) có hỏi em về gia thế, thì em chớ nên nói mình là kẻ anh hào bậc nhất tại triều đình (vì có thể bị vua Hung Nô bắt giữ ở lại đấy). § Xem thêm chương: "Sa mạc hồi khan", trang 438-464, tập "Con đường ngả ba", Bùi Giáng, 1972, nhà xuất bản An Tiêm, Saigon.

(10) thu trang: nguyên văn tĩnh trang trang điểm xinh đẹp. Ở đây có lẽ Bùi Giáng cố ý phiên âm thành tên riêng Thu Trang. Cũng như những tên Kim Cương, Thanh Thúy, Thẩm Thúy Hằng, v.v. la liệt trong các tác phẩm của ông.

trang đề tặng cô Thu Trang trong cuốn Đi vào cõi thơ

(11) bồ quân bánh mật: ... Tuy nhiên nâng Chén Quan Hà, Say mù tít cả thì da dẫu rằng. Vàng nâu hay trắng hoặc đen, Bồ quân bánh mật cầm bằng cũng như. Mép rìa nước mọc thừa dư, Mùa Man Dại Mộng cũng như nhiên là... (trích bài: "Ẩn ngữ dịu dàng", Bùi Giáng, Mưa Nguồn và Lá Hoa Cồn, Nxb An Tiêm tái bản, Saigon 1973).
(12) thổ: bản dịch Bùi Giáng ghi là: "Ngọc nhân tầm phục phủ kỳ cảnh, thổ uyển diệu chi âm... " Nguyên văn chữ Hán (giản thể): ngọc nhân tầm phục phủ kì cảnh, diệp uyển diệu chi âm. Có thể Bùi Giáng đã đọc chữ Hán (diệp) thành chữ Hán (thổ), hai dạng chữ chỉ khác nhau một nét ngang. Xem nhiều bản văn chữ Hán đều dùng chữ (diệp - giản thể) hoặc chữ (diệp - phồn thể): . Tuy nhiên, một điều thật là hi hữu, lầm lẫn nho nhỏ (nếu có) ở đây, lại không làm sai nghĩa trong lời Việt: "Người ngọc nghiêng nghiêng cổ ngà về một phía, ôn tồn uyển chuyển thỏ thẻ lời huyền diệu rất mực của âm thanh...", bởi vì "diệp uyển diệu chi âm " cũng có thể dịch là: "lời nhỏ nhẹ huyền diệu uyển chuyển rất mực của âm thanh..."
(13) phò vua giúp nước: nguyên văn "Tần đình chi khốc" . Điển cố: Thời Xuân Thu, nước Ngô xâm nhập nước Sở. Thân Bao Tư cầu cứu nước Tần, đứng dựa vào tường trước sân triều đình nhà Tần, khóc liên tục bảy ngày bảy đêm. Rốt cuộc làm vua Tần cảm động, cho đem quân cứu viện (xem Tả Truyện, Định Công tứ niên ). Sau thành ngữ "Tần đình chi khốc" dùng để chỉ sự xin nước khác cứu viện hoặc cầu khẩn người khác giúp đỡ.












No comments:

Post a comment